Chống Giáo dục khai phóng: Những kẻ đi ngược xu thế

Phan Quang

Nhiều người đã đi ngược dòng chủ lưu bằng sự quy kết, suy diễn thiếu bằng chứng và giá trị khoa học. Đọc John Henry Newman hay Martha Nussbaum về Giáo dục Khai phóng có thể là lựa chọn. Nhưng không đọc Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh lại là nghịch lý đối với những người tự nhận mình đang bảo vệ tư tưởng ấy.

Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện trào lưu tấn công Giáo dục khai phóng (GDKP) –  Những kẻ này cho rằng GDKP dẫn tới Cách mạng màu (?). Thậm chí PGS. TS Triết học Hà Nguyên Cát có bài viết nhan đề “Nguy hại của giáo dục khai phóng” (1). Ông Cát cho rằng GDKP dẫn tới chệch hướng nền Giáo dục Xã hội chủ nghĩa, là tàn dư của nền Giáo dục Việt Nam Cộng hòa (?), là “phi dân tộc, phi giai cấp” (?)… là nền giáo dục “đề cao chủ nghĩa cá nhân, làm giảm vai trò của chủ nghĩa tập thể“, chuyển từ quan niệm công dân gắn với quốc gia, dân tộc sang “công dân toàn cầu” (?). 

Nhưng dường như họ (và cả PGS Cát) chưa đọc các lý thuyết Giáo dục khai phóng của Newman, Nussbaum… Càng đáng tiếc hơn, khi bàn luận về Giáo dục khai Phóng, họ không nắm được tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh, không đối thoại với những định hướng giáo dục chính thức của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam.

Về Giáo dục khai phóng

Trong học thuật hiện đại cần phân biệt Liberal Education (triết lý và mô hình giáo dục) với Liberal Arts Education (chương trình giáo dục khai phóng). Cả Liberal Education và Liberal Arts Education dịch sang tiếng Trung là Bác Nhã Giáo Dục (博雅教育). Từ truyền thống Hy Lạp, qua John Henry Newman, Martha Nussbaum, cho đến cách tiếp cận của Đại học Bắc Đại: GDKP là nhằm phát triển con người toàn diện, xây dựng năng lực tư duy, học tập suốt đời và khả năng thích ứng với một thế giới luôn biến đổi.

GDKP chưa bao giờ được định nghĩa là “phi dân tộc, phi giai cấp”, hay “gây nguy hại đến các mặt khác của đời sống xã hội, nhất là hệ tư tưởng chính trị của đất nước” như ông Cát đã đánh tráo khái niệm.

Trong nền văn minh Hy Lạp, nền giáo dục dành cho các công dân của các thành bang (người tự do) gắn với các bộ môn như: ngữ pháp, hùng biện, logic. Chương trình giáo dục này đào tạo những công dân – nhà lãnh đạo có hiểu biết, những người sẽ tham gia điều hành thành bang. Cùng với Liberal Arts Education, các nhà tư tưởng như Thucidides và Plato đã thảo luận về chính trị, các hình thức chính phủ và sự tham gia của công dân. Đến thời đại Khai sáng, thế kỷ XVI, Liberal Arts Education được phục hưng.

Với văn minh Trung Hoa đó là giáo dục lục nghệ (thời Tiên Tần), bao gồm: lễ nghi, âm nhạc (thơ ca), bắn cung, đua xe ngựa, chữ viết và toán học. Sang thời Hán là Giáo dục Nho giáo. Năm 1941, Trung Hoa Dân Quốc chuẩn hóa cách dịch Liberal Arts Education thành Bác Nhã Giáo Dục (博雅教育) (2). 

Nói về GDKP, từ thế kỷ XIX, John Henry Newman khẳng định: “Người học thấu triệt được bức tranh toàn cảnh của tri thức, những nguyên lý nền tảng của nó, sự cân xứng giữa các thành tố, những mảng sáng và tối, những điểm vĩ đại và cả những chi tiết nhỏ nhất, theo một cách thức mà nếu thiếu đi nền giáo dục này, anh ta không thể nào lĩnh hội nổi. Chính vì lẽ đó, nền giáo dục anh ta thụ hưởng được gọi là “Khai phóng”. Một nếp tư duy được định hình và đồng hành cùng anh ta đến trọn đời, với những thuộc tính cốt lõi là: tự do, công tâm, điềm tĩnh, tính tiết độ và sự minh triết; hay như điều mà trong một bài diễn ngôn trước đây, tôi đã mạo muội gọi là một nếp tư duy mang tính triết lý” (3).

Nhà lý luận GDKP Martha Nussbaum cho rằng: “GDKP được hiểu là “một nền giáo dục bậc cao nhằm bồi dưỡng toàn diện con người cho các vai trò công dân và cho cuộc sống nói chung”. Mục tiêu của nó là giải phóng cá nhân khỏi những xiềng xích của sự ngu dốt, chủ nghĩa bè phái và tầm nhìn thiển cận, giúp họ trở thành những công dân minh triết có trách nhiệm xã hội và theo đuổi một cuộc đời trọn vẹn” (4).

Năm 2020, tại Bắc Kinh, Đại học Bắc Đại tổ chức Diễn đàn Giáo dục Nhất Đan lần thứ nhất với nội dung “Giáo dục Bác Nhã: Đối thoại xuyên văn hóa giữa Trung Quốc và phương Tây”. Tại đây, Đại học Bắc Đại khẳng định giáo dục Bác Nhã là truyền thống giáo dục lâu đời của cả phương Đông và phương Tây: “Vô luận ở phương Đông hay phương Tây, Giáo dục Bác Nhã là tư tưởng giáo dục có bề dày lịch sử lâu đời và ảnh hưởng sâu rộng bậc nhất” (5). 

Nếu giáo dục khai phóng là sản phẩm “phi dân tộc”, gây hại cho hệ tư tưởng chính trị của đất nước thì việc Đại học Bắc Đại tổ chức diễn đàn quốc tế về Bác Nhã Giáo Dục thật khó giải thích, khi họ coi đó là truyền thống giáo dục lâu đời của phương Đông.

GDKP đào tạo căn bản cho mọi người học, sau đó đi vào chuyên ngành (tùy theo sở thích người học). Từ phương pháp này, người học có thể thay đổi nghề nghiệp nhanh chóng, thích hợp hơn với đà thay đổi của xã hội. Họ cũng có tư duy chủ động hơn, hoàn thành trách nhiệm công dân, thích ứng tốt hơn trong môi trường toàn cầu hóa. 

Hồ Chí Minh với giáo dục Việt Nam

Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối diện với thực trạng hơn 90% dân số mù chữ. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền cách mạng được Hồ Chí Minh nhấn mạnh là “Chống giặc dốt”. Vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam DCCH coi “dốt” là một thứ giặc tương đương với “giặc đói” và giặc ngoại xâm. Chống “giặc dốt” cũng là cuộc cách mạng nâng cao dân trí, là cuộc cách mạng giải phóng con người bằng tri thức. 

Ngày 5/9/1945, trong bức thư gửi các học sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của nền độc lập, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” (6). Như vậy, ta thấy lời Hồ Chí Minh nhắn nhủ học sinh gần với tinh thần khai phóng hơn hết. Hơn nữa, học với Hồ Chí Minh trước hết là “để làm người”, để “phụng sự đoàn thể”, “giai cấp và nhân dân”, “Tổ quốc và nhân loại”(7).

Khi so sánh ở mục tiêu và nguyên lý giáo dục, ta nhận thấy nhiều điểm gặp gỡ giữa Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh với GDKP. Bản thân Hồ Chí Minh luôn mong nước Việt Nam có nền giáo dục đào tạo công dân phát triển trọn vẹn năng lực của mình, đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Sau này, Martha Nussbaum cũng coi mục tiêu của giáo dục là hình thành năng lực suy nghĩ độc lập, năng lực đồng cảm và trách nhiệm của người công dân. Như vậy, tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh tương đồng với lý luận GDKP của Martha Nussbaum.

Ngày 10/08/1946, Huỳnh Thúc Kháng (thay mặt Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) ký ban hành Sắc lệnh số 146/SL ấn định ba nguyên tắc căn bản: “Dân tộc hóa”, “Khoa học hóa” và “Đại chúng hóa”. Nội dung cơ bản của Sắc lệnh là: Phổ cập hóa giáo dục để giải phóng tư tưởng người dân; phát triển công dân toàn diện và linh hoạt ở bậc học trung học và chuyên nghiệp; kiến tạo đỉnh cao trí tuệ ở giáo dục đại học. Khoản 1, điều 7 của Sắc lệnh quy định: “Ngành học chuyên môn ban phát ngoài cái học phổ thông và một cái học chuyên môn và thực hành để đào tạo những người làm ruộng thợ, đi buôn lành nghề và những cán bộ thực tiễn đủ năng lực để điều khiển các cơ quan xã hội, kinh tế v.v.” (8).

Đưa tinh thần thực nghiệm, logic và khoa học hiện đại vào nhà trường chính là công cụ để “khai phóng” trí tuệ cho quốc dân. Với việc “Ở tất các bậc học học sinh không phải trả học phí, và các kỳ thi tốt nghiệp, học sinh cũng không phải nộp một phí khoản nào”, Sắc lệnh 146/SL phá vỡ đặc quyền giáo dục của tầng lớp trung – thượng lưu, đưa tri thức đến với mọi người dân. 

Sắc lệnh 146/SL chứa đựng những điều khoản là những hành động thực tế để “khai dân trí”, “chấn dân khí”, đặt nền tảng cho việc chuyển hóa người dân mất nước, mù chữ thành công dân tự do, biết tư duy và làm chủ vận mệnh của mình. Ba nguyên tắc Dân tộc hóa, Khoa học hóa và Đại chúng hóa mang đậm tinh thần của Giáo dục khai phóng (Liberal Education).

Tổng Bí thư Tô Lâm và Giáo dục khai phóng

Ngày 28/10/2025, trong chuyến thăm chính thức nước Anh, tại cuộc gặp ban lãnh đạo Đại học Oxford, ông Tô Lâm – TBT Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát biểu cảm nghĩ về “KHAI PHÓNG” trong mô hình giáo dục của trường này: “Tôi cùng đoàn đại biểu Việt Nam rất vui khi có mặt tại trường đại học có truyền thống lâu đời trong việc thúc đẩy tự do học thuật và KHAI PHÓNG tri thức toàn cầu” (9).

Trong bài phát biểu ngày 16/5/2026, tại Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, ông Tô Lâm chỉ đạo: “Để hiện thực hóa tầm nhìn ấy, Nhà trường cần có triết lý giáo dục hiện đại, quản trị tiên tiến và môi trường học thuật KHAI PHÓNG”. Ông bày tỏ mong muốn “từ truyền thống hiếu học nghìn năm của dân tộc, qua dấu mốc khai mở giáo dục đại học hiện đại, đến sứ mệnh hôm nay là ươm dưỡng nhân tài để phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân và nâng tầm trí tuệ Việt Nam” (10). Theo những định hướng đó, GDKP sẽ tạo nên những công dân tốt cho Kỷ nguyên Việt Nam vươn mình.

Nhưng nhiều người đã đi ngược dòng chủ lưu đó bằng sự quy kết, suy diễn thiếu bằng chứng và giá trị khoa học. Cuối cùng thì đọc John Henry Newman hay Martha Nussbaum về Giáo dục Khai phóng có thể là lựa chọn. Nhưng không đọc Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh lại là nghịch lý đối với những người tự nhận mình đang bảo vệ tư tưởng ấy.

Chú thích:

1. Hà Nguyên Cát (2026): Nguy hại của Giáo dục Khai phóng. Bài đăng tại báo Cựu Chiến Binh online, ngày 12 tháng 7 năm 2026. Truy cập đầu tiên ngày 15 tháng 7 năm 2026.

2. Dẫn theo Thẩm Văn Khâm (2016): Nguyên văn: “1941 年国民政府教育部公布的《教育学名词》正式 将liberal education 翻译 为”博雅教育”. Dịch: “Năm 1941, Bộ Giáo dục Chính phủ Quốc dân công bố “Giáo dục học danh từ” chính thức dịch liberal education là “’Giáo dục bác nhã”. Tạp chí Bắc Kinh Đại học Giáo dục Bình luận, tháng 7 năm 2016, tr. 157

3. John Henry Newman: Discourse 5. Knowledge its Own End, nguyên văn: “He apprehends the great outlines of knowledge, the principles on which it rests, the scale of its parts, its lights and its shades, its great points and its little, as he otherwise cannot apprehend them. Hence it is that his education is called “Liberal.” A habit of mind is formed which lasts through life, of which the attributes are, freedom, equitableness, calmness, moderation, and wisdom; or {102} what in a former Discourse I have ventured to call a philosophical habit”. Truy cập tại newmanreader ngày 28 tháng 7 năm 2026.

4. Martha Nussbaum, dẫn theo Leping Mou (2025), tr. 1190 -1191. Nguyên văn: “a higher education that is a cultivation of the whole human being for the functions of citizenship and life generally’ (Nussbaum 1998, 9). It aims to liberate individuals from the constraints of ignorance, sectarianism, and myopia, enabling them to become wise citizens with social responsibility and to pursue fruitful lives (AAC&U 1998; Nussbaum 1998)”. 

5. Đại học Bắc Kinh (2020). Nguyên văn tiếng Trung: 无论在东方还是西方,博雅教育都可以说是历史最为悠久、影响最为深远的教育思想之一.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, tr. 34 – 35. 

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, tr. 208. Về Tư tưởng Giáo dục của Hồ Chí Minh xem thêm TS Dương Minh Tuệ, Dương Thị Minh Diệp: “Tư tưởng Giáo dục của Hồ Chí Minh”, đăng tại Tạp chí Điện tử Lý Luận Chính trị ngày 15 tháng 11 năm 2021, truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2026.

8. Sắc lệnh số 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946 ấn định những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới, web Chính phủ, truy cập ngày 28/7/2026. 

9. Xem thêm: báo Quân đội nhân dân online, Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại học Oxford. Đăng ngày 29 tháng 10 năm 2025, truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.

10. Xem thêm tại Tạp chí điện tử nhân dân: Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm ngày Truyền thống Đại học Quốc Gia Hà Nội sáng 16 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2026.

*

Các tài liệu đã tham khảo

1. Đại học Bắc Kinh (2020), “博雅教育:中国与西方的跨文化对话——首届“一丹教育论坛”在北大举行” [Giáo dục Bác Nhã: Đối thoại xuyên văn hóa giữa Trung Quốc và phương Tây: Diễn đàn giáo dục Nhất Đan lần thứ nhất tổ chức tại Bắc Đại], xuất bản ngày 1/10/2020.

2. Hà Nguyên Cát (2026), “Nguy hại của Giáo dục Khai phóng”, Báo Cựu Chiến Binh online, đăng ngày 12/7/2026. 

3. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011.

4. Leping Mou (2025) Liberal arts education through a Confucian lens: contextualization and indigenization. Đại học Glasgow, Glasgow, Vương quốc Anh.

5. Newman, J. H. (1852), The Idea of a University, Discourse 5: Knowledge Its Own End. 

6. Sắc lệnh số 146/SL ngày 10/8/1946 của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ấn định những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới. 

7. Thẩm Văn Khâm (2016), Tái khẳng định truyền thống giáo dục của các hùng biện gia trong thời đại của các nhà triết học. Cảm nhận sau khi đọc “Nhà hùng biện và Nhà triết học: Lịch sử quan điểm về Giáo dục Bác nhã” (nguyên văn 在哲学家的时代重申雄辩家的教育传统《雄辩家与哲学家:博雅教育观念史》读后 沈文钦), Học viện Giáo dục, Đại học Bắc Kinh, Bắc Kinh, tháng 7 năm 2016.

8. Tô Lâm (2025), “Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại học Oxford ngày 28/10/2025”, Báo Quân đội nhân dân online.

9. Tô Lâm (2026), “Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 120 năm ngày Truyền thống Đại học Quốc gia Hà Nội ngày 16/5/2026”, Website Đại học Quốc gia Hà Nội.

P.Q.

Nguồn: FB Quang Phan

Related posts